Chữa bệnh tim mạch, hở van tim, suy tim, tim bẩm sinh

Bệnh nhân khỏi bệnh tim bẩm sinh

(BN khỏi bệnh tim bẩm sinh thông liên thất) Cháu Mai Thị Hằng – SN: 1996. Là con của em gái tôi bị bệnh tim bẩm sinh.Cháu sinh ra rất yếu, nuôi cháu rất vất vả, ốm đau liên miên. Khi đi khám thì biết bị tim bẩm sinh, thông liên thất.

Bệnh nhân khỏi bệnh hở van tim 2 lá, 3 lá nặng, suy tim

Hở van tim 2 lá, 3 lá - Bệnh nhân khỏi bệnh hở van tim, suy tim - Nhà thuốc bắc gia truyền Kim Tuấn Bùi Văn Đinh, 67 tuổi.

Chữa bệnh tim không cần phẫu thuật thay van tim

(Bệnh nhân khỏi bệnh phẫu thuật thay van tim) Ông: Nguyễn Văn Thảo – SN: 1946. Đ/c: Bình Minh – Vĩnh Long – Đồng Tháp. Bị bệnh tim đã lâu...

Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh tim. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh tim. Hiển thị tất cả bài đăng

17/6/13

Nước uống tốt cho tim

Bệnh tim là một trong những căn bệnh có tốc độ gia tăng rất nhanh ở các nước đang phát triển và là nguyên nhân gây ra các ca tử vong do bệnh nhiều nhất trên toàn thế giới. Tập trung vào những loại đồ uống có lợi cho tim được liệt kê dưới đây cũng là cách giúp bạn bảo vệ sức khỏe cho cơ quan quan trọng này.
Nước uống trợ timSo với ca cao hay trà, cà phê là thức uống có khả năng chống ô-xy hóa cao hơn. Ảnh: internet
1. Cà phê
So với ca cao hay trà, cà phê là thức uống có khả năng chống ô-xy hóa cao hơn. Chỉ cần sử dụng đúng liều lượng, cà phê sẽ giúp ngăn ngừa tình trạng viêm nhiễm và làm giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch. Một kết quả nghiên cứu được thực hiện với quy mô rộng lớn và kéo dài có sự tham gia của 83.000 phụ nữ ở Hoa Kỳ cho thấy những người uống hai ly cà phê mỗi ngày có thể làm giảm nguy cơ bị đột quỵ xuống 20% so với những người uống ít hoặc không uống cà phê.
Lời khuyên của các chuyên gia dinh dưỡng là chỉ nên uống từ hai đến bốn ly cà phê mỗi ngày. Tuy nhiên, nếu bạn đang bị bệnh thiếu máu, mệt mỏi và lo lắng thì chỉ nên uống một ly.
2. Nước ép lựu
Trong những năm gần đây, nhiều kết quả nghiên cứu đã chứng minh lợi ích mà nước ép lựu mang lại cho sức khỏe. Các chuyên gia của trường ĐH California, Hoa Kỳ đã khẳng định khả năng chống ô-xy hóa của loại nước ép này cao gấp ba so với rượu vang đỏ và trà xanh. Uống nước ép lựu thường xuyên có thể làm hạ thấp mức cholesterol, hạn chế sự hình thành các mảng bám trong động mạch (một nhân tố nguy hiểm gây ra bệnh tim) và thúc đẩy tỷ lệ máu lưu thông về tim. Khi sử dụng nước ép lựu, bạn nên lựa chọn loại không chứa đường.
3. Rượu vang đỏ
Trong rượu vang đỏ có chứa nhiều hợp chất giúp bảo vệ sự khỏe mạnh của tim, trong đó có chất resveratrol. Đây là một chất có khả năng chống ô-xy hóa, giúp bảo vệ các mạch máu trong tim và ngăn ngừa sự hình thành các cục máu đông. Một vài bằng chứng nghiên cứu còn cho thấy việc sử dụng rượu vang đỏ điều độ sẽ làm tăng mức HDl cholesterol (loại cholesterol có ích cho cơ thể). Đối với phụ nữ, không nên uống quá 1,5 ly vang đỏ mỗi ngày. Đối với nam giới, không được dùng quá 2 ly.
Nước uống tốt cho tim
Thêm chú thích
Để hạn chế nguy cơ mắc bệnh tim, nên uống khoảng bảy ly trà đen mỗi ngày. Ảnh: internet
4. Trà đen
Trà đen được sản xuất thông qua quá trình lên men các lá trà đã được thu hoạch và sấy khô. Quá trình chế biến này làm thay đổi thành phần hóa học trong lá trà. Nhờ đó, trong trà đen xuất hiện một số chất chống ô-xy hóa mạnh mẽ, có khả năng bảo vệ sức khỏe cho tim. Đã có rất nhiều kết quả nghiên cứu chứng minh trà đen có thể làm giảm nguy cơ đột quỵ, hạ thấp mức cholesterol LDL (loại cholesterol xấu, gây hại cho sức khỏe), cải thiện chức năng của các mạch máu và làm tăng sự lưu thông của máu ở các động mạch vành. Thời gian hãm trà càng lâu, lợi ích từ cá chất hóa học có nguồn gốc từ thực vật sẽ càng được phát huy. Chính vì vậy, uống trà nóng sẽ tốt hơn vì chúng giữ được hàm lượng các chất chống ô-xy có trong trà. Để hạn chế nguy cơ mắc bệnh tim, nên uống khoảng bảy ly trà đen mỗi ngày.
5. Trà xanh
Giống như trà đen, trà xanh cũng chứa rất nhiều chất chống ô-xy hóa có ích cho tim. Điểm khác biệt lớn nhất giữa hai loại trài này đó là trà xanh không trải qua quá trình lên men. Một kết quả nghiên cứu được thực hiện trong năm 2004 cho thấy việc uống nhiều trà xanh sẽ giúp ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh động mạch vành. Ngoài ra, có rất nhiều bằng chứng khoa học khẳng định việc tiêu thụ trà xanh sẽ làm giảm cholesterol, ngăn ngừa các cục máu đông và tình trạng đột quỵ. Lời khuyên của các chuyên gia dinh dưỡng là nên uống từ 1 đến 3 ly trà xanh mỗi ngày.
6.Nước
Mất nước là một trong những nhân tố nguy hiểm đối với căn bệnh động mạch vành, bao gồm cả tình trạng máu đông. Khi cơ thể mất nước, máu sẽ trở nên đặc hơn. Tình trạng này khiến tim phải tốn nhiều năng lượng hơn để bơm máu đi khắp cơ thể. Trên thực tế, thiếu nước mãn tính có thể gây ra chứng huyết áp cao. Nhiều chuyên gia khuyến cáo, người trưởng thành cần uống 8-10 ly nước mỗi ngày…
Theo TTLĐ

10/6/13

Triệu chứng của bệnh tim mạch thường gặp

Các triệu chứng của bệnh tim mạch thường là Khó thở, đau ngực, hồi hộp, choáng và ngất, phù. Các dấu hiệu: Tím, xanh tái, khó thở nhanh, ran hai đáy phổi, mạch đập vùng trước tim.



Triệu chứng khó thở điển hình của bệnh tim mạch
Các triệu chứng thường gặp nhất là:

Khó thở

Khó thở được khởi phát hoặc nặng lên bởi gắng sức và gây ra tăng áp lực nhĩ trái và tĩnh mạch phổi hoặc giảm ôxy máu.

Tăng áp lực nhĩ trái và tĩnh mạch phổi thường gặp nhất là rối loạn chức năng tâm trương thất trái (do phì đại, xơ hóa hoặc bệnh màng ngoài tim) hoặc bít tắc van gây ra. Đợt khởi phát hoặc nặng lên của tăng áp lực nhĩ trái có thể dẫn đến phù phổi. Giảm ooxxy máu có thể do phù phổi hoặc luồng thông trong tim.

Khó thở phải được xác định bằng mức độ hoạt động gây ra nó. Khó thở cũng là một triệu chứng thường gặp trong các bệnh phổi và khó có thể phân biệt được bệnh sinh, khó thở cũng có thể gặp ở người ít đi lại hoặc người béo, người trong tình trạng lo lắng, thiếu máu và nhiều bệnh khác.

Khó thở khi nằm là do sự tăng thể tích máu trung ương. Khó thở khi nằm cũng có thể do các bệnh phổi và béo bệu gây ra.

Khó thở kịch phát ban đêm sẽ giảm nhẹ bằng cách ngồi hoặc đứng lên, triệu chứng này thường đặc hiệu hơn trong các bệnh tim.

Đau ngực

Đau ngực có thể xẩy ra do một bệnh phổi hoặc một bệnh xương, bệnh thực quản hoặc các bệnh đường tiêu hóa, kích thich rễ dây thàn kinh cổ ngực , hoặc do tình trạng lo lắng cũng như nhiều bệnh tim mạch gây nên.

Nguyên nhân thường gặp nhất của đau ngực do tim là thiếu máu cơ tim cục bộ. Đau thường được mô tả là âm ỉ, nhức nhối hoặc như cảm giác ép vào, siết chặt, thắt chặt hoặc ngột ngạt hơn là đau như dao đâm hoặc co thắt lại, và nó thường được nhận thức như một cảm giác bứt rứt hơn là đau. Đau do thiếu máu cục bộ thường giảm đi trong vòng 30 phút, nhưng nó có thể kéo dài hơn.

Những cơn đau kéo dài thường tương ứng với nhồi máu cơ tim, đau thường kèm theo cảm giác bứt rứt hoặc lo lắng. Vị trí đau thường ở sau xương ức hoặc vùng trước tim bên trái. Mặc dù đau có thể lan tới hoặc khu trú ở vùng hầu họng, hàm dưới, bả vai, mặt trong cánh tay, vùng bụng trên hoặc lưng, nhưng nó hầu như cũng bao hàm cả vùng xương ức. Đau do thiếu máu cục bộ thường do gắng sức, nhiệt độ lạnh, sau bữa ăn, stress hoặc kết hợp các yếu tố này thúc đẩy và thường giảm đi khi nghỉ ngơi. Đau không liên quan đến tư thế hoặc hô hấp và thường không xuất hiện khi sờ nắn ngực. Trong nhồi máu cơ tim, một yếu tố thúc đẩy thường không roc rệt.

Phì đại thất trái hoặc bệnh van động mạch chủ cũng có thể phát sinh đau do thiếu máu hoặc đau ít điển hình hơn. Viêm cơ tim, bệnh cơ tim và sa van hai lá thường kết hợp với đau ngực không diển hình. Viêm màng ngoài tim có thể gây ra đau nhưng nó thay đổi theo tư thế và hô hấp. Phình tách động mạch chủ gây đau như xé lồng ngực một cách đột ngột và thường lan ra sau lưng.

Hồi hộp, choáng và ngất

Nhận thấy nhịp đập của tim có thể là hiện tượng bình thường hoặc có thể phản ánh tăng cung lượng tim hoặc tăng cung lượng nhát bóp tim ở những bệnh nhân với nhiều tình trạng bệnh ngoài tim (gắng sức, nhiễm độc giáp, thiếu máu, lo lắng…). Nó cũng có thể do các bệnh tim mạch làm tăng thể tích nhát bóp (hở van tim, nhịp chậm) hoặc có thể là dấu hiệu của rối loạn nhịp tim. Ngoại tâm thu thất có thể được cảm thất như nhát đập ngoại lai hoặc nhát nhảy cóc. Tim nhanh kịch phát trên thất hoặc thất bệnh nhân có thể cảm thấy đập hoặc rung rất nhanh, đều hoặc không đều. Tuy nhiên nhiều bệnh nhân không thấy biểu hiện gì cả.

Nếu như nhịp tim bất thường kết hợp giảm đáng kể huyết áp và cung lượng tim, thì nó có thể, đặc biệt là tư thế đứng thẳng, làm ảnh hưởng tới dòng máu lên não, gây choáng váng, mờ mắt, mất ý thức (ngất) hoặc các triệu chứng khác.

Ngất do tim thường gặp nhất là do ngừng nút xoang hoặc bloc đường ra nút xoang, bloc nhĩ thất, hoặc tim nhanh thất hoặc rung thất. Ngất có thể có một vài dấu hiệu tiền triệu và có thể gây ra chấn thương. Việc không có triệu chứng báo trước giúp phân biệt ngất do tim (Cơn Adams – Stockes) với ngất do mạch thần kinh phế vị, hạ huyết áp tư thế hoặc cơn động kinh. Mặc dù thương hồi phục ngay, một số bệnh nhân có thể có những động tác giống như trong cơn động kinh. Bệnh van động mạch chủ và bệnh tim phì đại tắc nghẽn cũng có thể gây ngất và thường xẩy ra khi gắng sức hoặc sau gắng sức. Một hình thức ngất khác là chủ đề thu hút sự chú ý đáng kể trong những năm gần đây được gọi là ngất do thần kinh tim. Trong hội chứng này có sự tăng không thích hợp hoạt động phế vị ly tâm, thường do tăng kích thích thần kinh giao cảm của tim trước đó. Song nó có thể xẩy ra đột ngột giống hệt như ngất do rối loạn nhịp tim.

Phù

Sự tích lũy dịch dưới da xuất hiện đầu tiên ở chi dưới ở những bệnh nhân đi lại được hoặc ở vùng xương cùng của những người nằm liệt giường. Trong bệnh tim, phù do tăng áp lực nhĩ phải gây ra. Suy tim phải thường nhất là do suy tim trái mặc dù các dấu hiệu của suy tim phải có thẻ rõ rệt hơn. Các nguyên nhân do suy tim khác của phù gồm bệnh màng ngoài tim, bệnh van tim bên phải và chứng tim phổi mạn. Phù cũng có thể do suy tĩnh mạch, hội chứng thận hư, xơ gan hoặc ứ dịch trước kỳ kinh nguyệt hoặc nó có thể tự phát. Suy tim phải nặng có thể gây ra cổ trướng, và hầu như bao giờ cũng đi kèm với phù.